Kỳ 1: Cuộc chiến không súng đạn
Agnes Bernauer đóng vai "Vicky Ba Nụ Hôn". Ảnh: Shutterstock
Dưới cái tên "Vicky Ba Nụ Hôn", cô gái 21 tuổi Agnes Bernauer liên tục rót vào tai binh lính Đức những lời ngọt ngào cùng tiếng hát truyền cảm trên sóng phát thanh châu Âu. Giọng cô trầm và đầy mê hoặc: “Chào các chàng trai. Lại là ‘Vicky Ba Nụ Hôn’ của các anh đây”. Rồi cô gửi ba nụ hôn gió qua làn sóng phát thanh.
Một thủy thủ Đức nghe chương trình của Vicky có thể ngỡ rằng đó chính là tiếng nói của người yêu hay người vợ đang mòn mỏi đợi mình trở về, sau nhiều năm chiến tranh kéo dài tới tận mùa hè năm 1944.
Bằng chất giọng Berlin chuẩn mực của tầng lớp thượng lưu, Bernauer thủ thỉ đầy quyến rũ: "Sẽ tuyệt biết bao nếu lúc này chúng ta có thể ngồi cạnh nhau trong quán cà phê nhỏ ấm cúng, cùng nhâm nhi ly rượu vang Rhine và lặng lẽ nhìn vào đôi mắt nhau, thật sâu, thật ấm áp".
Khi tiếng nhạc lắng xuống, "Vicky Ba Nụ Hôn" lại cất lời. Giờ đây giọng cô mang nỗi buồn:"Chúng ta chẳng còn nhiều thời gian nữa. Và ai biết được khi nào, ở đâu chúng ta mới gặp lại nhau?".
Thế nhưng, Bernauer hoàn toàn không có ý thật lòng với những lời ấy. Trong phòng thu cách London (Anh) khoảng hơn 64 km về phía Bắc, nữ diễn viên tóc đen, mắt đen, mang một nửa dòng máu Do Thái là người thủ vai “Vicky Ba Nụ Hôn”. Agnes Bernauer từng chạy trốn khỏi Đức Quốc xã một lần. Giờ đây, cô phản công bằng thứ vũ khí mới nhất của cuộc chiến.
Vào những năm 1940, phát thanh vẫn là phương tiện truyền thông tương đối mới mẻ. Trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, các hoạt động tuyên truyền chủ yếu dựa vào báo in. Sự ra đời của phát thanh đã mở ra khả năng truyền tải thông điệp sâu vào lãnh thổ của đối phương.
Thế giới khi đó đã quen thuộc với hình thức "tuyên truyền trắng", tức là những chiến dịch thông tin do chính phủ công khai triển khai nhằm cổ vũ tinh thần người dân trong nước và bôi xấu đối phương.
Tuy nhiên, Chiến tranh Thế giới thứ hai ghi nhận sự xuất hiện của "tuyên truyền xám", trong đó nguồn phát thông điệp được che giấu nhưng mục đích tác động vẫn bộc lộ khá rõ. Xa hơn nữa, cuộc chiến còn sản sinh một hình thức đáng sợ hơn: "tuyên truyền đen", đánh lừa công chúng về chính nguồn gốc của thông tin và khiến họ hoang mang đến mức không còn phân biệt được đâu là sự thật, đâu là điều hư cấu.
Phe Đồng minh không phải là người khởi xướng cuộc chiến tranh tâm lý này. Trong nhiều năm, Bộ Giáo dục và Tuyên truyền (cơ quan ngôn luận của Joseph Goebbels, người đứng đầu bộ máy tuyên truyền của Đức Quốc xã) đã kiểm soát chiến trường thông tin.
Ngay từ năm 1933, Đức Quốc xã đã ra lệnh sản xuất “máy thu của Bet88-Nổ Hũ,Bắn Cá,Thể Thao,Casino Live,Game Bài,Đá Gà” Volksempfänger. Đây là loại máy thu thanh giá rẻ đóng vai trò quan trọng trong các kế hoạch tuyên truyền trong nước của Đức Quốc xã.
Trong khi đó, chính phủ Anh dựa vào Dịch vụ châu Âu của đài BBC để truyền bá tin tức đến những người nghe thiếu thông tin ở Đức và các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. BBC hình thành tập hợp các đài phát thanh phát ra từ một điền trang cũ của Anh ở làng Milton Bryan. Đô đốc hải quân Đức Karl Dönitz đã gọi địa điểm nông thôn này của Ban Chỉ đạo Chiến tranh Chính trị Anh (PWE) là một "Giftküche" (nhà bếp độc hại).
Trong những năm đầu thập niên 1940, PWE đã âm thầm thành lập hàng chục đài phát thanh "xám" và "đen" nhằm gây ảnh hưởng đến người nghe ở phía sau chiến tuyến của kẻ thù. Tạo dấu ấn nhất là chương trình phát sóng hàng đêm do "Der Chef" điều hành - một sĩ quan Đức Quốc xã hư cấu, thô tục và bất mãn, chuyên lan truyền những tin đồn bịa đặt về các quan chức Đức.
Nhưng vào năm 1943, Der Chef đã bị "khai tử" trên sóng phát thanh để giải phóng nguồn lực cho dự án tham vọng hơn là đài Atlantiksender (Đài phát thanh Đại Tây Dương) và Soldatensender Calais (Đài phát thanh của người lính Calais), được cho là phát sóng từ thành phố Calais bị chiếm đóng của Pháp nhưng thực chất được phát từ miền Nam nước Anh.
Các đài phát thanh này, thường có nội dung tương tự nhau, được thiết kế để không thể phân biệt được với đài phát thanh chính thức của Đức Quốc xã. Chúng hướng đến mục tiêu làm suy yếu tinh thần binh lính và người dân thường Đức bằng những câu chuyện bịa đặt mang tính chiến lược như quân Đồng minh di chuyển nhanh hơn; ước tính thương vong của Đức cao hơn một chút...
Những người vận hành Atlantiksender và Soldatensender Calais hợp tác với nhánh tình báo non trẻ của Mỹ là Văn phòng Dịch vụ Chiến lược (OSS), đã trở thành đỉnh cao của nhiều năm thử nghiệm tuyên truyền trên đài phát thanh ở cả hai phía của cuộc chiến. Những câu chuyện bịa đặt mà họ phát sóng đã tiếp cận người nghe từ vùng Trung Tây Mỹ đến Đông Nam Á.
Câu chuyện thực sự ẩn dưới những thông tin đó có thể được ghép lại từ lời kể trực tiếp của những người làm việc tại làng Milton Bryan, đang nằm rải rác trong các kho lưu trữ ở châu Âu và Bắc Mỹ, và trong hàng loạt nhật ký đương thời cùng hồi ký được viết bởi những người lính cũng như người dân thường đã nghe các đài phát thanh này. Ngày nay, thế giới biết đến điều này với tên gọi "thông tin sai lệch".
Agnes Bernauer không hề hay biết gì về những đài phát thanh bí mật này. Cô gái tị nạn người Đức trẻ tuổi đã ấp ủ sự nghiệp sân khấu từ năm 5 tuổi. Cha cô - ông Rudolf - từng là nhà quản lý sân khấu và nhà viết kịch ở Berlin. Vào tháng 12/1930, khi Bernauer 7 tuổi, Đức Quốc xã đã tấn công sân khấu của ông Rudolf ở Berlin vì tội chiếu phim "All Quiet on the Western Front" (Phía Tây không có gì lạ), một bộ phim mà Đức Quốc xã căm ghét. Nhà hát buộc phải đóng cửa.
Tháng 11/1933, sau khi Hitler lên nắm quyền, cha của Bernauer cố gắng rời khỏi Đức nhưng bị bắt tại biên giới. Sau đó, ông tìm cách xin được hộ chiếu Hungary cho cả gia đình và rời sang Anh vào cuối năm 1935. Bernauer đoàn tụ gia đình một năm sau đó.
Là người tị nạn tại London, gia đình Bernauer bị phía Anh cấm tham gia hỗ trợ phe Đồng minh trong quân đội hoặc trong lực lượng cứu thương. Khi còn là thiếu niên, Bernauer chỉ có thể đóng góp với vai trò nhân viên phòng không dân sự.
Bernauer đã dồn tâm sức học tiếng Anh tại trường nội trú ở Anh nhưng vẫn chật vật để tìm được chỗ đứng tại London.
Cơ quan tình báo Mỹ đã liên hệ với cha của Bernauer về công việc viết kịch bản và dịch thuật. Rudolf gợi ý rằng con gái ông có thể đóng góp cho dự án bí mật của chính phủ. Sau khi nghe thử giọng của Bernauer, nhà sản xuất chương trình phát thanh người Mỹ trở thành điệp viên của OSS là ông Ira Ashley đã đồng ý tiếp nhận cô. Giọng nói của Bernauer chính xác là những gì ông cần. Ngay sau đó, Bernauer được điều đến Milton Bryan.
Tại Milton Bryan, Bernauer được chứng kiến phòng thu âm khác hẳn mọi phòng thu cô từng thấy. Nơi đây còn có nhà canh gác, những hàng rào cao với dây thép gai và các chú chó chăn cừu Đức tuần tra.
Để tạo ra những chương trình phát thanh giả mạo nhưng đủ sức thuyết phục người nghe, PWE đã xây dựng cả một bộ máy làm báo có quy mô không thua kém BBC. Thế nhưng, thông tin các đài phát thanh này coi trọng nhất lại không phải những sự kiện lớn trên chính trường quốc tế. Điều họ cần là câu chuyện phản ánh khó khăn trong cuộc sống thường nhật của người dân Đức, dấu hiệu rạn nứt trong bộ máy cai trị tại các vùng bị chiếm đóng hay cuộc đấu đá vụn vặt giữa các nhân vật cấp cao dưới quyền Hitler - bất cứ điều gì có thể làm lung lay tinh thần người nghe.
Chiến lược của họ dựa trên niềm tin rằng những công nhân Đức chán nản sẽ làm chậm quá trình sản xuất vật tư chiến tranh, còn các binh sĩ mất nhuệ khí sẽ chiến đấu kém hiệu quả hơn. Cả hai đều góp phần làm suy yếu đối phương.
Ngoài ra, các đài phát thanh này còn đặc biệt chú trọng những chi tiết rất đời thường, chẳng hạn kết quả các trận bóng đá của Hải quân Đức, bởi những thông tin như vậy giúp củng cố vỏ bọc rằng đây thực sự là một đài phát thanh của Đức. Những mẩu tin tưởng như vụn vặt ấy được các điệp viên của PWE và OSS hoạt động sau chiến tuyến đối phương gửi về mỗi ngày, cùng với thông tin thu thập từ các cuộc thẩm vấn tù binh và những tờ báo được tuồn ra ngoài.
Đến giữa năm 1944, kế hoạch đánh lừa được dàn dựng hết sức công phu này chỉ còn thiếu một yếu tố.
Cấp trên của ông Ira Ashley là David Winton viết trong một bản ghi nhớ của OSS đóng dấu "Mật": "Đối với chương trình như thế này, phần giải trí là yếu tố quan trọng nhất. Chính nội dung giải trí mới giúp thu hút và giữ chân binh sĩ Đức nghe đài, không chỉ khiến họ chú ý mà còn đưa họ vào trạng thái tâm lý thích hợp để tiếp nhận những nội dung tuyên truyền phá hoại xuất hiện sau đó".
Muốn giành chiến thắng trên mặt trận phát thanh, phe Đồng minh trước hết phải chiến thắng trong cuộc đua giành thính giả, bằng cách thu hút người nghe bằng những bản nhạc hấp dẫn nhất. Và Bernauer sẽ dùng chính giọng hát của mình để phản công Đức Quốc xã.
Đón đọc kỳ cuối: Khi lời nói trở thành vũ khí